Nằm ẩn mình giữa núi non điệp trùng của xã miền núi Xuân Lãnh, tỉnh Đắk Lắk, thôn Xí Thoại (xã Xuân Lãnh) là cái nôi gìn giữ một trong những báu vật văn hóa phi vật thể độc đáo nhất của dải đất Trường Sơn - Tây Nguyên: Nghệ thuật trình diễn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm. Đây không chỉ là tài sản tinh thần vô giá của đồng bào Ba Na, mà còn là một kiệt tác dân gian độc nhất vô nhị, phản ánh sâu sắc sự giao thoa văn hóa đầy diệu kỳ giữa hai tộc người Chăm và Ba Na.
Có những vùng đất chỉ cần một lần đặt chân đến, người ta đã có thể nhớ mãi bởi cảnh sắc thiên nhiên, bởi con người hiền hòa và bởi những âm thanh rất riêng không thể tìm thấy ở nơi nào khác. Xí Thoại, xã Xuân Lãnh, tỉnh Đắk Lắk là một vùng đất như thế. Nơi đây không chỉ lưu giữ những nét đẹp văn hóa truyền thống của cộng đồng Ba Na mà còn có một loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian độc đáo: Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm – những thanh âm đã gắn bó với đời sống tinh thần của cộng đồng qua nhiều thế hệ.
Nghệ thuật trình diễn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia được công nhận vào ngày 13/10/2015 và tổ chức lễ công nhận vào ngày 22/2/2016, nghệ thuật trình diễn của đội nghệ thuật cồng chiêng thôn Hà Rai và thôn Xí Thoại xã Xuân Lãnh nhiều năm qua được Sở VH,TT&DL chọn làm thành phần nòng cốt đội nghệ thuật tỉnh đi tham gia các đợt biểu diễn nghệ thuật ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tham gia Liên hoan Văn hóa cồng chiêng khu vực Miền trung và Tây Nguyên….với chương trình phong phú, đặc sắc để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bè bạn.

Lễ hội trình diễn Trống đôi, cồng ba, chiêng năm hằng năm tại thôn Xí Thoại
Ngày trước người Ba Na có một bộ cồng chiêng gồm 12 chiếc. Dàn cồng chiêng này chủ yếu sử dụng trong không gian thiêng như lễ bỏ mả, tang ma. Các sinh hoạt có tính chất giải trí như lễ hội thì không được sử dụng. Tuy nhiên, về sau do nhu cầu giải trí của người dân ngày càng cao, nên các nghệ nhân mới tách 5 chiếc chiêng có thứ tự âm thanh hay, phù hợp với các bài dân ca của họ ra khỏi dàn chiêng 12 chiếc để chuyên trình diễn trong các dịp lễ hội của buôn làng. Dần dà theo thời gian, các nghệ nhân lại phát hiện những đặc điểm thú vị của ba chiếc cồng lớn trong dàn cồng chiêng 12 chiếc, và quan trọng hơn, họ nhận thấy ba chiếc cồng này có thể hòa âm với năm chiếc chiêng đã tách ra trước đó tạo ra những thanh âm phù hợp theo nhu cầu thẩm âm của đồng bào. Vậy là ba chiếc cồng lại được tách ra cùng với dàn chiêng năm trước đó, cuối cùng là cặp Trống đôi được bổ sung vào tạo thành bộ ba hoàn hảo như ngày hôm nay.
Cồng ba thực hiện chức năng đi hòa thanh còn Chiêng năm chuyên diễn tấu giai điệu. Và dần dần xuất hiện các bài bản riêng cho dàn nhạc cụ này. Khi tiếng Chiêng năm ngân lên, tiếng Cồng ba hòa vào từng âm sắc, rồi tiếng Trống đôi rộn ràng vang vọng, cả không gian dường như bừng tỉnh. Những âm thanh ấy không đơn thuần là âm nhạc. Đó là tiếng gọi của cộng đồng, là niềm vui sau những ngày lao động trên nương rẫy, là sự kết nối giữa con người với con người và là một phần ký ức văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hồ sơ di sản ghi nhận bộ ba nhạc cụ này là một sản phẩm văn hóa độc đáo của Chăm và Ba Na; nguồn gốc cụ thể của toàn bộ bộ nhạc cụ vẫn còn là vấn đề được các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu.
I. MIÊU TẢ VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ:
1. Quá trình ra đời và tồn tại:
Đã từ lâu, các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc đều cho rằng nghệ thuật trình diễn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm là một sản phẩm văn hóa độc đáo của hai dân tộc Chăm và Ba Na thuộc các xã miền núi của tỉnh Phú Yên (cũ). Tuy nhiên để xác định nguồn gốc một cách chính xác, cụ thể thì cho đến nay vẫn chưa có nhà nghiên cứu nào khẳng định được gốc rễ của vấn đề.
Theo một số nhà nghiên cứu, hiện nay bộ ba Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm là tài sản chung của hai tộc người Chăm và Ba Na ở hai huyện Đồng Xuân và Sơn Hòa của tỉnh Phú Yên (cũ). Dàn nhạc này được ra đời trên cơ sở của quá trình sinh sống cộng cư và giao thoa văn hóa có phần đặc biệt giữa hai tộc người này. Họ trình diễn trong không gian và môi trường diễn xướng như nhau, biên chế dàn nhạc và hệ thống bài bản cũng tương tự nhau. Từ lâu, dàn nhạc này đã trở thành báu vật có vị trí và chức năng vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của đồng bào nơi đây.
Theo nhà nghiên cứu Ka Sô Liễng (nguyên Phó Giám đốc Sở VHTT Phú Yên) cho rằng: ngày trước người Ba Na có một bộ cồng chiêng gồm 12 chiếc. Dàn cồng chiêng này chủ yếu sử dụng trong không gian thiêng như lễ bỏ mả, tang ma. Các sinh hoạt có tính chất giải trí như trong các lễ hội không được sử dụng. Tuy nhiên, về sau do nhu cầu giải trí của người dân ngày càng cao, nên các nghệ nhân mới tách 5 chiếc chiêng có thứ tự âm thanh hay, phù hợp với các bài dân ca của họ ra khỏi dàn chiêng 12 chiếc để chuyên trình diễn trong các dịp lễ hội của buôn làng. Dần dà theo thời gian, các nghệ nhân lại phát hiện những đặc điểm thú vị của ba chiếc cồng lớn trong dàn cồng chiêng 12 chiếc, và quan trọng hơn, họ nhận thấy ba chiếc cồng này có thể hòa âm với năm chiếc chiêng đã tách ra trước đó tạo ra những thanh phù hợp theo nhu cầu thẩm âm của đồng bào. Vậy là ba chiếc cồng lại được tách ra cùng với dàn chiêng năm trước đó, cuối cùng là cặp Trống đôi được bổ sung vào tạo thành bộ ba hoàn hảo như ngày hôm nay.
Thời gian đầu, Cồng ba và Chiêng năm có tính độc lập tương đối, được phân chia chức năng rõ ràng dưới hình thức trình diễn đối đáp. Về sau các nghệ nhân mới phối hợp âm thanh và thống nhất tiết tấu của hai loại nhạc cụ này lại với nhau như xương với thịt. Cồng ba thực hiện chức năng đi hòa thanh còn Chiêng năm chuyên diễn tấu giai điệu. Và dần dần xuất hiện các bài bản riêng cho dàn nhạc cụ này.
Riêng cặp Trống đôi, nhà nghiên cứu Ka Sô Liễng cho biết chúng là nhạc cụ khá phổ biến ở một số tộc người trong tỉnh Phú Yên (cũ) và từng có mặt ở một số tộc người khu vực Tây Nguyễn như Êđê, Jalai... được người Ba Na tại thôn Xí Thoại tiếp thu và cho vào biên chế của dàn nhạc Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm như hiện nay.
2. Hình thức biểu diễn:
Trống đôi: là nhạc cụ được dùng khá phổ biến trong đời sống sinh hoạt văn hóa của đồng bào Ba Na tại thôn Xí Thoại. Trống đôi gồm một trống đực và một trống cái. Tang trống có hai loại: một loại tang liền (được chế tác từ một khối gỗ nguyên, thường là gỗ mít, giống như cách làm thuyền độc mộc của đồng bào các tỉnh miền núi phía Bắc), một loại tang ghép (được chế tác từ những mảnh gỗ ghép lại với nhau). Ở Xí Thoại đồng bào Ba Na thường dùng loại tang liền vì âm thanh khi phát ra có sức lôi cuốn, có độ trong - vang hơn là loại tang ghép. Trống đôi có chiều cao trung bình từ 40 - 60cm, đường kính khoảng 25 - 27cm. Mặt trống được bịt bằng da bò, da bò phải là bò có tuổi đời từ 15 đến 20 năm, mang về ngâm nước 3 đêm liền, sau đó mới dùng để bịt trống.
Trống đôi là nhạc cụ thuộc họ màng rung, kích âm bằng cách sử dụng trực tiếp lòng bàn tay đánh trên bề mặt trống. Người đánh Trống đôi phải là nam, có sức khỏe tốt. Bởi trong quá trình đánh trống họ còn phải trình diễn các động tác múa rất phức tạp và phải kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa các động tác của cơ thể với đôi bàn tay. Chính vì lẽ đó mà đồng bào nơi đây hay gọi đánh trống là múa trống. Với đặc tính độc đáo, đạt trình độ cao trong nghệ thuật trình diễn, có thể nói Trống đôi là một nhạc cụ thuộc loại quý hiếm của đồng bào Ba Na tại thôn Xí Thoại rất đáng được trân trọng giữ gìn.
Theo già làng La Chí Thái bộ ba Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm thì duy chỉ có Trống đôi là do đồng bào ở đây chế tác, hai nhạc cụ còn lại đồng bào phải đi sưu tầm hoặc mua từ nơi khác.
Trong bộ ba nhạc cụ nêu trên, Trống đôi là nhạc cụ có sức hấp dẫn hơn cả. Và sự hấp dẫn của Trống đôi thật khó tưởng tượng và diễn tả một cách tách bạch. Bởi nó có tiết tấu, âm điệu không như trống tuồng, trống trận, trống chèo.... Tuy nhiên, qua một vài lần quan sát người nghe có thể nhận thấy được những nét cơ bản về tính độc đáo của loại nhạc cụ này, dưới gốc độ thưởng thức cảm nhận.
Trước hết, điệu thức của Trống đôi là một tập hợp những chuỗi tiết tấu đầy ngẫu hứng, không được giới hạn trong một trường độ, cao độ nhất định. Đôi nam nghệ nhân ra biểu diễn, mỗi người một trống mang vào và múa theo nhịp trống từ chính đôi tay của họ tạo ra, tiết tấu thưa nhặt, dồn dập, âm điệu ngẫu biến chồng lên nhau, biến hóa sắc màu gợi lên trong trí nhớ người nghe sự tưởng tượng - âm điệu róc rách của suối, bập bùng của lửa và mưa nguồn thác đổ của đại ngàn. Múa trống đôi còn có một ngữ điệu rất riêng đó là thông qua tiếng trống, điệu múa của hai nghệ nhân biểu diễn họ có thể truyền cho nhau những ký hiệu biểu cảm như một cuộc giao tiếp chuyện trò.
Người Ba Na cho rằng đánh Trống đôi là một các nói chuyện chuyện sâu lắng nhất. Khi hai người song diễn luôn luôn có một người nêu câu hỏi và buộc người cùng chơi phải đối đáp; tiếng trống thay cho lời, điệu múa nói lên cách ứng xử. Đồng điệu, thích nhau thì âm trống, điệu múa hòa quyện xem lạ mắt, nghe rất sướng tai. Còn ví như không ưa nhau thì tiếng trống nghe đốp chát, nghỉnh ngảng, tức giận biểu hiện coi thường bạn chơi. Do đó nghệ nhân trình diễn trống đôi phải là một cặp ngang sức ngang tài người tung, kẻ hứng hiểu ý nhau mới giữ cho cuộc chơi trọn vẹn.
Với đặc tính độc đáo, đạt trình độ cao của nghệ thuật trình diễn, Trống đôi là một nhạc cụ thuộc loại quý hiếm của đồng bào Ba Na tại thôn Xí Thoại rất đáng được trân trọng gìn giữ và phát huy.
Cồng ba: là nhạc cụ thuộc họ tự thân vang, có núm, dàn Cồng ba có tên gọi như sau: Cồng Mí (mẹ) có đường kính 53cm; Cồng Mai (chị) có đường kính 43cm, Cồng Con (con) có đường kính 31cm. Khi đánh Cồng ba, người chơi sử dụng dùi bằng gỗ[1] có chiều dài khoảng 25 - 30cm, đầu bọc vải, đánh vào giữa núm của cồng. Khi đánh cồng các nghệ nhân sử dụng cách đánh buông nhiều hơn là cách đánh chặn giúp âm thanh vang lên một cách tự nhiên.
Chiêng năm: hay còn gọi là ching năm là nhạc cụ thuộc họ tự thân vang, không có núm. Chiêng năm có tên gọi lần lược như sau: Pồng có đường kính 37cm; Pềnh có đường kính 34cm; Pang có đường kính 32cm, Poong có đường kính 30cm, Pếch có đường kính 28,5cm.
Khi đánh Chiêng năm, các nghệ nhân luồn tay vào phần dây buộc của chiêng. Bốn ngón tay đặt mặt ngoài chiêng, ngón tay cái phía trong chiêng. Lúc này dây đeo chiêng sẽ nằm giữa ngón cái và bốn ngón còn lại. Khi trình diễn, chiêng nằm ở vị trí ngang ngực, phần khuỷu tay gấp lại tạo ra một góc 450. Để cho ra những âm thanh vang ngắt nhịp nhàng, nghệ nhân phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa tay dùi với tay chặn âm trên mặt chiêng.
3. Quy trình thực hành:
Đầu tiên phải nói tới đó là cách bố trí dàn nhạc. Dàn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm chủ yếu trình diễn theo hình thức xếp hình tròn, rồi đi theo vòng tròn. Theo đó, đi đầu tiên là hai nhạc cụ phụ họa (chiếc sắc và chiếc bạt)[2], tiếp đến là Chiêng năm rồi đến Cồng ba, Trống đôi sẽ đi cuối cùng thực hiện vai trò tạo tiết tấu, nhịp điệu và múa. Có khi Trống đôi đi song hành cùng dàn Cồng ba và Chiêng năm.
Khi trình diễn, Chiêng năm sẽ đánh đầu tiên, sau khi âm thanh của Chiêng năm đều nhau thì Cồng ba bắt đầu hòa thanh. Khi hai loại nhạc cụ này diễn tấu hòa hợp và đi vào ổn định thì cặp Trống đôi mới bắt đầu vào cuộc, cùng lúc đó là hai loại nhạc cụ chiếc sắc và chiếc bạt cũng đồng thời vang lên. Đây là thời điểm hòa hợp giữa bốn loại nhạc cụ tạo nên những tiết tấu, âm thanh, điệu thức múa hết sức độc đáo làm say đắm không biết bao nhiêu chàng trai cô gái của buôn làng và du khách trong mỗi dịp lễ hội.
Về các bài bản của dàn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm, hiện nay có nhiều bài bản nhưng phổ biến nhất là có bốn bài chia làm hai thể loại có tính chất đối lập nhau và được trình diễn trong không gian khác nhau bao gồm:
- Thể loại dùng trong các dịp lễ hội gồm: Chào mừng, Giao lưu, Tiễn khách.
+ Bài đầu tiên Chào mừng (hay còn gọi là đón khách) có tiết tấu nhanh và tính chất vui nhộn hơn cả, nổi bật trong đó là cặp Trống đôi vừa có chức năng hòa tấu hòa nhịp, lại vừa có chức năng trình tấu và phô diễn các động tác múa rất độc đáo. Đồng thời nghệ nhân trình diễn Trống đôi cũng phát triển, biến thái một số tiết tấu hết sức phức tạp với những kỹ thuật như vỗ kết hợp với vuốt nhanh trên mặt trống, nhưng vẫn đảm bảo tính nhanh nhạy của các bước chân luôn mềm dẻo uyển chuyển, tạo sự chuyển động của toàn cơ thể trong đó bao gồm cả chân, tay, vai và đầu đầy ngẫu hứng, sáng tạo.
+ Bài Giao lưu, đến bài này giai điệu của dàn cồng chiêng lắng lại, trở về nhịp điệu bình thường, vai trò chủ đạo trong lúc này không còn của cặp Trống đôi nữa mà thay vào đó là phần hòa âm của Cồng ba và Chiêng năm. Cặp Trống đôi và hai nhạc cụ phụ họa chỉ thực hiện chức năng giữ nhịp, nhắc đi nhắc lại một trọng âm luân phiên đều nhau và ổn định theo nhịp một.
+ Bài Tiễn khách, phương thức trình diễn có phần thay đổi, lúc này Cồng ba vừa thực hiện chức năng hòa thanh, nhưng lại vừa độc lập, thực hiện chức năng đối đáp bằng một giai điệu riêng. Lúc này bộ ba Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm như những người bạn tâm giao nói những lời chia tay sau cuộc vui. Tiết tấu và âm nhạc không còn vui nhộn mà thiên về âm điệu có tính chất buồn hơn, thể hiện một cuộc chia tay nuối tiếc sau cuộc gặp gỡ và giao lưu vui vẽ.
- Thể loại dùng trong việc tang ma và lễ bỏ mả: Đồng bào Ba Na tại thôn Xí Thoại tổ chức tang ma qua hai công đoạn chính. Đó là lễ tang và lễ bỏ mả, trong hai lễ này họ chỉ dùng Cồng ba và Chiêng năm mà không sử dụng Trống đôi. Phương thức trình diễn Cồng ba, Chiêng năm trong hai lễ này thường mang tiết tấu chậm rải, âm nhạc có nhịp điệu buồn, không có những đoạn nhanh chậm khác nhau như ở thể loại dùng trong các lễ hội.
Một quy luật khi trình diễn Trống Đôi, Cồng ba, Chiêng năm tại thôn Xí Thoại được các thế hệ nghệ nhân gìn giữ và thực hiện nghiêm túc, đó là trong những ngày lễ hội thì không được đánh các bài bản dùng trong tang ma và ngược lại trong tang ma và lễ bỏ mả thì không được đánh các bài bản dùng trong lễ hội.
4. Không gian văn hóa liên quan, các sản phẩm vật chất và tinh thần tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển của di sản:
4.1. Không gian văn hóa liên quan:
Không gian trình diễn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm là ở các lễ hội và một số phong tục tập quán của đồng bào Ba Na tại thôn Xí Thoại, không gian bên nhà sàn đối với lễ thổi tai em bé khi mới chào đời; không gian nơi bến nước hay con suối đối với lễ cúng bến nước; không gian trên nương rẫy đối với lễ mừng lúa mới, không gian bên nhà văn hóa đối với lễ xoay cột con trâu…; và cuối cùng là không gian bao la giữa núi rừng đại ngàn tại các lễ bỏ mả[3].
Không chỉ xuất hiện ở không gian các lễ hội truyền thống, ngày nay bộ ba Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm còn xuất hiện ở không gian đám cưới của những nhà giàu có, khá giả tại địa phương.
4.2. Các sản phẩm vật chất và tinh thần tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển của di sản:
a) Sản phẩm vật chất:
Các sản phẩm vật chất ở đây là những bộ cồng chiêng, Trống đôi, những bài múa của đội múa xoan, những màn trình diễn đẹp đầy ngẫu hứng của các nghệ nhân đánh Trống đôi.
b) Sản phẩm tinh thần:
Nghệ thuật trình diễn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm là một loại hình văn hóa đặc thù của đồng bào Ba Na tại Xí Thoại. Sản phẩm tinh thần được tạo ra ở đây là tiếng cười, là sự vui vẽ của đồng bào, là sự giải tỏa bao mệt nhọc vất vã sau những ngày mùa tất bậc trên nương rẫy và cuối cùng là sự thỏa mãn về nhu cầu giải trí của đồng bào khi xem các nghệ nhân trình diễn.
Ngoài ra, khi trình diễn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm trong các lễ hội có tính chất thiêng như Lễ hội xoay cột con trâu, Lễ mừng lúa mới..., đồng bào như được thần linh (ở đây là Giàng) che chở và tiếp nhận những vật phẩm mà con người dâng cúng, trong đó có cả âm vang trầm hùng của tiếng cồng chiêng, Trống đôi do những nghệ nhân tài hoa trình diễn dâng lên Giàng.
II. GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ:
1. Giá trị lịch sử:
Mỗi một dân tộc đều có sự hình thành, phát triển và hoàn thiện theo thời gian, cùng với đó là những giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn, gìn giữ và phát huy qua từng thời kỳ lịch sử thăng trầm của mỗi vùng đất, buôn làng.
Đối với đồng bào Ba Na tại thôn Xí Thoại, từ bao đời nay các lễ hội đã thấm sâu vào nếp ăn nếp nghĩ của mỗi một con người được sinh ra và lớn lên trên vùng đất này. Họ sẽ cảm thấy trống vắng, đơn điệu, buồn tẻ... nếu như không được nghe tiếng trống, tiếng cồng chiêng vang lên trong mỗi dịp buôn làng có lễ hội hay có những việc hệ trọng khác. Vì vậy, tiếng trống, tiếng cồng chiêng đã khẳng định được vai trò lịch sử của nó trong đời sống tinh thần hằng mấy trăm năm qua của đồng bào nơi đây.
2. Giá trị nhân văn:
Tiếng Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm trong mỗi dịp lễ hội khác nhau đều có những giá trị nhân văn sâu sắc, tiếng trống, cồng, chiêng trong lễ cầu hôn nhắc nhở đôi trai gái yêu thương nhau bền chặt, thủy chung, tuân thủ truyền thống, giữ trọn đạo vợ chồng; khi buôn làng có người qua đời tiếng cồng chiêng nghe buồn bã, chậm chạp nỉ non, kêu gọi mọi người cùng nhau chia sẻ nổi đau, tiển biệt người đã khuất trong tình đoàn kết giữa đồng bào với nhau; khi buôn làng có chiến tranh loạn lạc, tiếng trống, cồng, chiêng thúc giục, mang âm hưởng oai hùng cổ vũ dân làng chiến đấu quên mình vì sự tồn vong của buôn làng, cộng đồng dòng tộc…
3. Giá trị về sự giao thoa văn hóa:
Hòa nhịp cùng không gian văn hóa cồng chiêng của đồng bào các tỉnh Tây Nguyên, nghệ thuật trình diễn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm của đồng bào Ba Na tại thôn Xí Thoại là một nốt nhạc trong bản nhạc đa sắc màu của đồng bào các dân tộc Việt Nam.
Ngày nay khi “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đã trở thành kiệt tác truyền khẩu và là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Hơn bao giờ hết, bộ ba Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm là một bộ phận góp phần không nhỏ làm giàu thêm vốn văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc vùng miền của đồng bào Ba Na tại thôn Xí Thoại nói riêng, các dân tộc sinh sống trải dọc dải Trường Sơn nói chung.
4. Giá trị khoa học:
Xét về gốc độ thang âm của dàn cồng chiêng có hai cách chia bao gồm:
Cách thứ nhất([4]): căn cứ vào sự sắp xếp thứ tự từ âm trầm tới âm cao, từ cồng tới chiêng được thang âm: f - am - f1 - c1 - d1 - f1 - g1 - a1. Nếu tính mỗi chiếc chiêng, cồng là một cao độ thì sẽ có hai chiếc đồng âm và trùng âm.
Cách thứ hai: dựa vào nguồn âm thanh được phát ra và chức năng của cồng, chiêng được chia làm hai loại ứng với hai bộ phận cồng và chiêng. Ở đây, năm chiếc chiêng có năm âm thanh phát ra tương ứng có thang năm âm: c - d - f - g - a; ba chiếc cồng cho ra ba âm: f - am - f1. Nhìn vào đây chúng ta dễ dàng nhận thất việc sắp xếp các âm thanh theo cách thức nhất là không nên, vì thực tế chúng cũng không có tính độc lập tương đối. Quan trọng hơn, khi nghe để xác định thang âm, rõ ràng thang âm trong bộ phận chiêng năm đã ổn định. Tuy nhiên hai nhóm âm thanh này có cùng một hệ âm, có sự đồng nhất trong chỉnh thể của một dàn cồng chiêng, nên khi phối hợp diễn tấu theo phương thức hòa âm trong âm nhạc cổ truyền hòa âm theo chiều ngang là hợp lý.
Cũng nhìn vào đây chúng ta nhận thấy thang năm âm trong bộ phận chiêng năm là thang âm được dùng phổ biến và là một trong những thang âm cơ bản trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam.
III. HIỆN TRẠNG DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ:
Song hành cùng các loại hình văn hóa truyền thống của địa phương, loại hình nghệ thuật trình diễn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm tại thôn Xí Thoại đang được gìn giữ, bảo tồn và phát huy rất hiệu quả. Cụ thể là trong những năm qua đội Cồng chiêng của thôn đã tham gia trình diễn tại liên hoan các dân tộc ở thủ đô Hà Nội, tham dự các kỳ thi cấp tỉnh, huyện đạt nhiều giải thưởng và được cộng đồng cùng các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao.
Hiện nay đội Cồng chiêng của thôn có khoảng 40 người, thường xuyên tập luyện và đang tiếp tục đào tạo thế hệ kế cận cho các em tuổi từ (10 - 16) để trong thời gian tới các em sẽ là chủ nhân của đội cồng chiêng tương lai phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của đồng bào và du khách.
Đảng và Nhà nước cần có sự tôn vinh, ghi nhận cho những đóng góp to lớn trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản “Nghệ thuật trình diễn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm” mà các lớp nghệ nhân đã, đang thực hành và gìn giữ trong những thập kỷ qua trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Phú Yên nói chung, thôn Xí Thoại, xã Xuân Lãnh, huyện Đồng Xuân nói riêng.
Cần tiếp tục phổ biến những giá trị truyền thống của di sản văn hóa phi vật “Nghệ thuật trình diễn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm” rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để đông đảo người dân tiếp nhận và chung tay gìn giữ, phát huy trong thời đại ngày nay.
Kết luận: Giá trị lớn nhất của di sản không chỉ nằm trong những chiếc trống, chiếc cồng hay chiếc chiêng, mà còn nằm ở con người đang gìn giữ và trao truyền những thanh âm ấy. Bởi vậy, khi đến Xí Thoại, du khách không chỉ đến để nghe một buổi biểu diễn. Du khách đang đến để lắng nghe một câu chuyện văn hóa, cảm nhận một đời sống cộng đồng và gặp gỡ những con người đang ngày ngày gìn giữ một phần ký ức của quê hương.
Hãy đến và lắng nghe Xí Thoại: Có thể bạn sẽ không hiểu hết từng nhịp trống, từng tiếng cồng hay từng âm sắc của chiêng. Nhưng chỉ cần một lần đứng giữa không gian văn hóa Xí Thoại, lắng nghe tiếng Trống đôi đối đáp, tiếng Cồng ba hòa thanh và tiếng Chiêng năm ngân vang, bạn sẽ cảm nhận được rằng âm nhạc truyền thống không chỉ để nghe – mà còn để cảm nhận, để kết nối và để nhớ.
Xí Thoại – nơi những thanh âm truyền thống vẫn đang sống. Trống đôi – Cồng ba – Chiêng năm không chỉ là những nhạc cụ. Đó là những thanh âm mang theo ký ức, tình cảm và bản sắc của cộng đồng; là một phần sắc màu văn hóa góp vào bức tranh đa dạng của các dân tộc Việt Nam.
[1] Dùi thường được làm bằng cây Zdu - lai được lấy từ trong rừng là một loại cây nhiều nhựa, dai, có độ nẩy và giữ được độ ẩm lâu, gần giống với thân cây sắn.
[2] Chiếc sắc còn gọi là lục lạc - một loại dây được làm bằng thổ cẩm có gắn các vật kim loại như đồng tiền bạc, quả chuông nhỏ bằng đồng; Chiếc bạt còn gọi là sập sẻng được làm bằng nhôm, có đường kính khoảng 20cm.
[3] Tại lễ bỏ mả, tang ma đồng bào Ba Na chỉ sử dụng cồng chiêng, không sử dụng Trống đôi. Đây là điều cấm kỵ của buôn làng.
([4]) Kết quả nghiên cứu của Viện Âm nhạc Việc Nam do nhóm nghiên cứu âm nhạc Đặng Bá Oánh và Nguyễn Đình Lâm trong công trình "Sưu tầm, bảo tồn âm nhạc dân gian các dân tộc Chăm, Ba Na và Kinh (Việt) tỉnh Phú Yên" thuộc chương trình dự án "Hỗ trợ văn hóa Việt Nam vì sự phát triển bền vững 2005 – 2009 do quỹ SIDA – Thụy Điển tài trợ.